Hỗ trợ trực tuyến

Ms. NguyênMs. Nguyên

yahoo0903.683.231

emailsales@kcs.com.vn

Ms. DungMs. Dung

yahoo08 - 5430 3399

email

fanpape facebook

VIDEO

Liên kết website

Sản phẩm bán chạy

  • Chân Nhôm Sofa MA
  • Súng bắn đinh ZN-12
  • Xơ Polyester (Gòn)
  • Nút kim cương Φ 20mm
  • Pát A23 Dia 10
  • Đinh Công Nghiệp
  • Chân Bàn Cafe - sắt
  • Đinh Dây Trang Trí
  • Đinh 10J - 1006J, 1008J, 1010J, 1013J, 1016J, 1022J
  • Chân Nhôm Sofa MB
  • Pát A23 Dia 8
  • Súng bắn đinh đầu dù C - BRET
  • Xơ Polyester (Gòn) - Kiện
  • Khung Bàn Tròn Inox
  • Đinh Đế Nhựa

Thống kê truy cập

  • Đang Online:63

  • Truy cập tuần:1853

  • Truy cập tháng:3307

  • Tổng truy cập:105821

Chi tiết tin tức

Phát triển thị trường sản xuất vật liệu công nghiệp, vật liệu mới

Ngày đăng: 08/12/2015 - 11:42 PM

Kết quả của tổng kết 30 năm đổi mới về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định một trong những “điểm nghẽn” làm chậm tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu nước ta chưa đáp ứng cho các thị trường sản xuất trong nước và xuất khẩu. Điều này dẫn tới phải nhập khẩu với tỷ trọng vật liệu công nghiệp quá nhiều từ nước ngoài, làm cho giá thành các sản phẩm công nghiệp của Việt Nam tăng cao, thiếu tính cạnh tranh.

 

Ngày nay, khi đất nước hội nhập sâu, nhiều hiệp định thương mại được ký kết, các danh mục hàng hoá, sản phẩm cạnh tranh, tỷ trọng xuất nhập khẩu không cân đối, đầu tư FDI tăng nhanh, tỷ lệ nội địa hoá và giá trị gia tăng của nền kinh tế thấp. Đã đến lúc chúng ta cần đẩy nhanh tái cơ cấu nền kinh tế, khắc phục nguy cơ tụt hậu về kinh tế, cần xác định rõ nguyên nhân, định hướng, tạo động lực mới, tiếp cận sáng tạo, đột phá trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện các hiệp định thương mại.

Phát triển, đa dạng hoá các thị trường sản xuất vật liệu công nghiệp của Việt Nam cần được coi trọng, xem xét nghiêm túc, coi đây là giải pháp có tính đột phá nhằm đáp ứng cho các thị trường sản xuất trong nước phát triển. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại mà mục tiêu của Đại hội lần thứ XI của Đảng đề ra, dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định.

Vật liệu aerogel - một dạng siêu vật liệu (metamaterial) cấu trúc micro. Nó có thể đỡ được khối trọng lượng nặng hơn 160.000 lần so với cân nặng của chính nó. Ảnh chỉ có tính minh hoạ (Nguồn: khoahoc.tv).

Sự cần thiết phát triển các ngành công nghiệp vật liệu

Các ngành công nghiệp vật liệu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các thị trường sản xuất, là điều kiện cần thiết để phát triển nền công nghiệp hiện đại đáp ứng yêu cầu hội nhập, tác động mạnh tới tăng trưởng kinh tế, là cơ sở phát triển cho nhiều ngành nghề và sản phẩm mới, tạo điều kiện khai thác tối ưu các nguồn lực phục vụ phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, vị thế cạnh tranh và tham gia toàn cầu hoá. Đối với Việt Nam, Chiến lược sản xuất công nghiệp vật liệu là đòi hỏi tất yếu để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và các mục tiêu đó cần được nhất quán là:

Thứ nhất, công nghiệp sản xuất vật liệu có tính nền tảng, là nguyên liệu đầu vào cho các thị trường sản xuất hàng hoá, có hiệu ứng lan tỏa, tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển cho các ngành công nghiệp khác, đặc biệt là ngành công nghiệp chế tạo, công nghệ thông tin, điện tử, hoá dẻo, công nghệ cao; phục vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, chăn nuôi và chế biến nông sản phẩm xuất khẩu theo tiêu chuẩn quốc tế và tham gia chuỗi cung ứng, sản xuất, dịch vụ khu vực và quốc tế.

Thứ hai, sản xuất ngày càng nhiều các loại vật liệu công nghiệp trong nước là chủ động giải quyết lao động, việc làm, nâng cao năng suất lao động, thương hiệu sản phẩm quốc gia và cạnh tranh quốc tế, tự chủ cho công nghiệp quốc phòng - an ninh, cung ứng vật tư cho các thị trường sản xuất trong nước, giảm nhập siêu, tăng giá trị xuất khẩu, nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng sản phẩm của hàng hoá Việt Nam, đảm bảo tính ổn định, phát triển bền vững của doanh nghiệp. Định hướng chiến lược và tiến tới đảm bảo “an ninh vật liệu”, giúp cho nền sản xuất công nghiệp trong nước nói chung và quốc phòng - an ninh, những lĩnh vực công nghiệp thiết yếu, đáp ứng cho sự ra đời của các ngành công nghiệp công nghệ cao và vật liệu mới phát triển.

Thứ ba, sản xuất công nghiệp vật liệu có quy mô càng lớn thì giá thành càng rẻ, lợi nhuận và giá trị gia tăng càng cao, lựa chọn được những lĩnh vực mà thị trường trong nước và quốc tế có nhu cầu lớn, sản phẩm kết tinh, chứa đựng hàm lượng khoa học công nghệ cao, hiệu quả kinh tế đem lại lợi ích ngày càng nhiều cho các nhà sản xuất trong nước và cung cấp các loại vật liệu công nghiệp cho các nhà sản xuất FDI tại Việt Nam.



Thứ tư, góp phần giảm mạnh nhập khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô. Với con số hàng chục tỷ đô la Mỹ nhập khẩu các loại vật liệu công nghiệp hàng năm, nguồn lực đó để đầu tư cho các thị trường sản xuất trong nước. Xây dựng chiến lược và tổ chức thực hiện có hiệu quả sản xuất vật liệu công nghiệp trong nước, Việt Nam sẽ có nhiều thị trường sản xuất vật liệu công nghiệp nội địa rộng lớn, chưa kể đến thị trường khu vực và quốc tế.

Thứ năm, khắc phục được tình trạng xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô giá rẻ; qua đó sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, nâng cao khả năng gia tăng giá trị sản phẩm, tạo thêm nguồn lực cho đất nước trong trước mắt và lâu dài.

Thứ sáu, tranh thủ lợi thế từ các hiệp định thương mại quốc tế: với nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương được ký kết, trong đó Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) kỳ vọng là sẽ mở ra giai đoạn phát triển mới cho nền kinh tế nếu như chúng ta không có thực lực để hội nhập.

Một trong số những điều kiện để được hưởng ưu đãi thuế quan là phải đảm bảo quy tắc xuất xứ, tự chủ được vật liệu thì sẽ tạo ra được ưu thế lớn trong cạnh tranh và xuất khẩu hàng hóa.

Thứ bảy, nâng cao trách nhiệm, tranh thủ sự sáng tạo của các nhà đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện để các doanh nghiệp nước ta có chỗ đứng vững chắc, liên danh, liên kết hợp tác phát triển, nâng cao hiệu quả trong các chuỗi giá trị toàn cầu, hạn chế tình trạng Việt Nam chỉ tận dụng được lợi thế lao động nhân công rẻ, giá trị gia tăng thấp, không chủ động được việc bảo vệ môi trường ngay từ trong nhà máy, đơn vị sản xuất, do việc khó tiếp cận khi kiểm tra giám sát (tại các cơ sở sản xuất của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp FDI)...

Thứ tám, xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, định hướng đầu tư cho sản xuất công nghiệp vật liệu là đầu tư chiến lược cho sản xuất trước mắt và lâu dài, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đáp ứng hội nhập kinh tế, là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện các hiệp định thương mại đã ký, thu hút các nhà đầu tư FDI, tiếp thu được nhiều loại hình công nghệ mới tiên tiến, hiện đại. Hiệu quả kinh tế của công nghiệp vật liệu được thu qua các chuỗi giá trị từ cung ứng, dịch vụ sản phẩm đến chuỗi sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế trong nước và các chuỗi giá trị kinh tế của khu vực và quốc tế.

Đẩy mạnh phát triển thị trường sản xuất vật liệu công nghiệp, vật liệu mới 

Trước hết, cần phải dự báo sát tình hình thế giới, khu vực, trong nước; đánh giá đúng tiềm năng, lợi thế, nhu cầu của các thị trường sản xuất trong nước. Định hướng chiến lược phát triển các ngành sản xuất công nghiệp vật liệu và vật liệu mới, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế giai đoạn 2015 - 2025, tầm nhìn năm 2035 theo hướng như sau:

Về quan điểm phát triển: Phát triển các ngành công nghiệp vật liệu là yêu cầu khách quan, cấp thiết có ý nghĩa chiến lược; phục vụ cho các thị trường sản xuất trong nước và xuất khẩu; đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập sâu về kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tạo nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại trên tinh thần dự thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng.

Vật liệu công nghiệp là nguyên liệu đầu vào cho tất cả các ngành sản xuất, phát triển thị trường sản xuất công nghiệp vật liệu nhằm từng bước tự chủ được nguyên, nhiên, vật liệu cung ứng cho các thị trường sản xuất trong nước, đồng thời từng bước giảm mạnh về nhập siêu nguyên, vật liệu công nghiệp; phát triển công nghiệp vật liệu và sản xuất vật liệu công nghiệp phục vụ công nghiệp hoá và hội nhập phải gắn với khoa học công nghệ hiện đại có thể bỏ qua một số vật liệu truyền thống, thay thế vào đó những vật liệu mới công nghệ cao. Phát triển sản xuất vật liệu công nghiệp phải gắn với thị trường, phù hợp với các loại hình sản xuất và yêu cầu của sản phẩm. Phát triển các ngành công nghiệp vật liệu và vật liệu mới phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia trong từng thời kỳ.

Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp vật liệu phải đồng bộ, từ việc xây dựng hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách; hạ tầng kỹ thuật, khoa học công nghệ, nguồn lực, nhân lực, quy hoạch, kế hoạch, quản lý, khai thác, dự trữ, chế biến sử dụng tài nguyên nguồn cho sản xuất vật liệu công nghiệp, có hiệu quả.

Chú trọng phát triển sản xuất vật liệu công nghiệp, sử dụng tài nguyên sẵn có trong nước. Đầu tư chiều sâu sử dụng công nghệ hiện đại, cải tiến công nghệ hiện có nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm. Các sản phẩm công nghiệp vật liệu phải đảm bảo chất lượng TCVN và tiêu chuẩn quốc tế, có tính năng kỹ thuật cao và khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Phát triển công nghiệp vật liệu ở những nơi có tài nguyên mỏ, điều kiện thuận lợi. Chú trọng các quy mô sản xuất lớn, vừa và nhỏ nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, tiết kiệm tài nguyên và chi phí vận chuyển.

Sản xuất vật liệu công nghiệp vốn đầu tư ban đầu lớn, giá trị được thu lại thông qua các chuỗi cung ứng và sản xuất khác cho nên nhà nước cần có cơ chế đặc thù cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai và khuyến khích các ngành công nghiệp vật liệu sản xuất với qui mô lớn, phân phối cho nhiều thị trường, nhiều lĩnh vực sản xuất trong và ngoài nước, hỗ trợ ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao.

Các thị trường vốn tài chính, ngân hàng... trên cơ sở hoạt động của các thị trường sản xuất để hợp tác, liên kết, hỗ trợ cho các thị trường sản xuất phát triển và làm cho cho quốc gia giàu có thịnh vượng.

Về mục tiêu phát triển: Phát triển thị trường sản xuất vật liệu công nghiệp và vật liệu mới nước ta giai đoạn 2015 - 2025, hội nhập quốc tế và tầm nhìn năm 2035 đáp ứng nhu cầu về các loại vật liệu thông dụng và vật liệu mới từ tài nguyên trong nước và có tính đến cả nhập khẩu một số nguyên nhiên liệu mà nước ta chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng giá thành cao hơn nhập khẩu, nhằm kết hợp với tài nguyên trong nước để sản xuất vật liệu công nghiệp chất lượng cao.

Một số lĩnh vực của các ngành công nghiệp vật liệu phải tiếp cận được trình độ công nghệ của các nước phát triển, một số lĩnh vực phải đạt trình độ tiên tiến trên thế giới. Phát triển thị trường sản xuất công nghiệp vật liệu Việt Nam có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu cho các thị trường sản xuất, lĩnh vực then chốt của đất nước như: năng lượng, cơ khí chế tạo, máy động lực, tàu biển, giàn khoan, ô tô, xe máy, điện tử, linh kiện, phụ tùng (chi tiết máy)…; vật liệu công nghiệp cho các ngành xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi, xây dựng, hạ tầng kỹ thuật đô thị, du lịch, dịch vụ; dệt may, da giầy, tiêu dùng; thị trường sản xuất nguyên, vật liệu công nghiệp cho các lĩnh vực khai thác, chế biến của kinh tế biển, nông lâm nghiệp như thị trường sản xuất lúa gạo, cao su, cà phê, chè, trà, thực phẩm đồ uống...; thị trường sản xuất hoá chất, hoá dẻo, hoá lỏng cho các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông lâm nghiệp, dược liệu và y tế...; thị trường sản xuất vật liệu công nghiệp phải hướng tới khả năng sản xuất được các loại vật liệu có tính năng kỹ thuật cao, vật liệu mới, vật liệu nhiệt áp trong công nghiệp vũ trụ, hàng không, quốc phòng, đáp ứng nhu cầu sử dụng đa dạng cho các ngành kinh tế kỹ thuật công nghệ cao. 

Định hướng phát triển các sản phẩm công nghiệp vật liệu 

Phát triển thị trường công nghiệp sản xuất vật liệu gang, vật liệu thép chất lượng cao với công nghệ tiên tiến để có nhiều sản phẩm gang các loại, sản phẩm thép các loại có mã số, tiêu chuẩn ISO trong nước và quốc tế, sản phẩm có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Đảm bảo ngành vật liệu gang, vật liệu thép phát triển ổn định, bền vững, đáp ứng cơ bản nhu cầu vật liệu gang, vật liệu thép không chỉ cho các ngành xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, nhà ở... mà còn phải vươn tới đáp ứng cho các ngành công nghiệp chế tạo: máy động lực, thuỷ điện, giàn khoan, tàu biển, tham gia chuỗi sản xuất công nghệ cao, công nghiệp vũ trụ, công nghiệp hàng không, quốc phòng; phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, đang hướng tới là nước công nghiệp theo hướng hiện đại...

Công nghiệp vật liệu bauxit-alumin và hợp kim nhôm: Phát huy lợi thế với trữ lượng lớn trên 11 tỷ tấn tài nguyên bauxit nhôm của Việt Nam lớn thứ hai của thế giới, sản xuất hợp kim nhôm nhằm đáp ứng đủ cho nhu cầu của các ngành công nghiệp trong nước và xuất khẩu. Hợp kim nhôm là kim loại nhẹ có độ dẻo, độ bền cao, dẫn nhiệt, dẫn điện tốt dùng cho tất cả các ngành công nghiệp chế tạo, năng lượng, hàng không, dân dụng và xây dựng. Đến năm 2020 thị trường sản xuất nhôm đạt khoảng 30 - 35 triệu tấn, đến năm 2025 đạt khoảng 40 - 45 triệu tấn, nâng dần tỷ trọng sản xuất hợp kim nhôm.

Vonfram: Là tài nguyên kim loại quí hiếm nhất của thế giới, trữ lượng tài nguyên này của Việt Nam lớn thứ nhì thế giới chỉ sau Trung Quốc là vật liệu sử dụng cho công nghiệp điện tử công nghệ cao, vũ trụ, quốc phòng... cần được quản lí tổ chức khai thác, chế biến sâu ra sản phẩm hợp kim có giá trị kinh tế kỹ thuật cao...

Công nghiệp vật liệu kim loại đồng: Trên cơ sở trữ lượng hiện có, tổ chức khai thác hiệu quả, đáp ứng công nghiệp luyện đồng (đạt 30.000-40.000 tấn đồng kim loại/năm), phục vụ cho các ngành công nghiệp dân dụng và quốc phòng.

Công nghiệp vật liệu kim loại thiếc: Sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường và có hiệu quả nhất đối với nguồn tài nguyên khoáng sản quặng thiếc (sản lượng thiếc thỏi đạt khoảng 3.000 tấn/năm), khuyến khích sản xuất hợp kim thiếc và sản phẩm bằng thiếc từ thiếc thỏi đáp ứng các nhu cầu về hợp kim thiếc và sản phẩm bằng thiếc cho nhu cầu của các ngành công nghiệp năng lượng, điện tử, điện thoại, linh kiện, phụ kiện... của đất nước để giảm nhập khẩu.

Công nghiệp vật liệu chì - kẽm: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến hiện đại để nâng cao chất lượng chì - kẽm thương phẩm (sản lượng chì kim loại thương phẩm 25.000 tấn/năm và kẽm kim loại thương phẩm 30.000 tấn/năm); kim loại kẽm sử dụng phổ biến trong công nghiệp dân dụng, kim loại chì sử dụng cho công nghiệp năng lượng, vỏ bọc cáp quang, dân dụng, công nghiệp quốc phòng...

Công nghiệp vật liệu kim loại titan: Trữ lượng tài nguyên titan ở nước ta cũng có trữ lượng lớn so với thế giới, titan là kim loại quí hiếm, cần tổ chức khai thác khoa học hợp lý, tận dụng cho các nhà máy chế biến sâu titan, tập trung đến năm 2020 có nhà máy sản xuất sản phẩm pigment hoặc titan kim loại/titan xốp; phục vụ cho ngành sản xuất công nghiệp công nghệ cao, chịu nhiệt độ cao, áp suất lớn, sản xuất các thiết bị cho công nghiệp hàng không, vũ trụ, y tế, dân dụng...

Công nghiệp vật liệu kim loại niken: Là kim loại quý hiếm và giá trị cao nên tập trung đầu tư nhà máy sản xuất niken kim loại và các sản phẩm đi kèm (sản lượng 7.000-10.000 tấn/năm); cung ứng cho công nghiệp quốc phòng, công nghệ cao, điện tử, nhiệt áp cao...

Công nghiệp vật liệu kim loại crom với ferrcrom: Là sản phẩm chủ đạo, đến năm 2020 đạt khoảng 200.000 tấn/năm.

Công nghiệp vật liệu đất hiếm: Phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng đất hiếm với công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường (sản lượng 10.000 tấn ô xít đất hiếm/năm); cung cấp nguồn cho sản xuất vật liệu điện và các ngành công nghiệp khác.

Công nghiệp dầu khí: Là nguyên, nhiên, vật liệu có giá trị cung ứng cho nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu, là nguồn thu lớn cho ngân sách quốc gia; cần tổ chức tốt việc thăm dò, khai thác, dự trữ, chế biến. Ngoài các sản phẩm chính của ngành cần quan tâm nhiều hơn nữa các sản phẩm sau lọc hoá dầu để sản xuất ra nhiều sản phẩm vật liệu công nghiệp khác có giá trị phục vụ cho các thị trường sản xuất trong nước... Tiếp tục cụ thể hoá và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 23/7/2015 của Bộ Chính trị về Định hướng Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035 và Quyết định số 1748/QĐ-TTg ngày 14/10/2015 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến 2025 định hướng đến 2035 của Thủ tướng Chính phủ.

Công nghiệp vật liệu hóa chất: Với công nghệ tiên tiến để sản phẩm hóa chất có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, đảm bảo phát triển ổn định và bền vững, đáp ứng cơ bản nhu cầu sản phẩm hóa chất cho sự phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp quốc phòng của đất nước, đặc biệt chú trọng đầu tư xây dựng các tổ hợp công nghiệp hóa dầu gắn liền với các nhà máy lọc dầu trong nước nhằm đáp ứng nguyên liệu cho sản xuất các loại nhựa, các phụ gia, bán thành phẩm làm nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp khác, sản phẩm hóa chất cơ bản đảm bảo cung cấp đủ cho các ngành công nghiệp.

Công nghiệp vật liệu dệt - may: Sản xuất sản phẩm vật liệu dệt may có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, đảm bảo phát triển ổn định và bền vững, đáp ứng cơ bản nhu cầu sản phẩm vật liệu dệt may cho sự phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp quốc phòng của đất nước (vải đạt 3 - 4,5 tỷ m2/năm, sợi 1,3 - 2,2 triệu tấn/năm).

Công nghiệp vật liệu da - giày: Áp dụng công nghệ tiên tiến để sản phẩm vật liệu da - giày có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, đáp ứng cơ bản nhu cầu (da thuộc 1,2 - 2 tỷ Sf, giả da 570 - 850 triệu Sf).

Công nghiệp vật liệu dẻo: Với công nghệ tiên tiến để sản phẩm vật liệu nhựa có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, đáp ứng cơ bản nhu cầu vật liệu nhựa cho sự phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp quốc phòng của đất nước (800.000 tấn nhựa PE, 860.000 tấn nhựa PE, 120.000 tấn nhựa PVC-E, 120.000 tấn nhựa PS, 400.000 tấn nhựa HDPE).

Công nghiệp vật liệu xi măng: Vật liệu xi măng có tính cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế, đáp ứng cơ bản nhu cầu vật liệu xi măng, xi măng 120 - 130 triệu tấn/năm đảm bảo ổn định cho sản xuất trong nước và xuất khẩu.

Gốm sứ, thủy tinh: Với công nghệ tiên tiến để sản phẩm gốm sứ công nghiệp, thủy tinh (gốm sứ 228.000 - 370.000 tấn sản phẩm gốm sứ gia dung, 960.000 - 1.550.000 tấn gốm sứ mỹ nghệ, thủy tinh công nghiệp 370.000 - 375.000 tấn/năm).

Ngoài ra, còn rất nhiều các loại vật liệu công nghiệp khác như silicat, đô lô mít... có thể sản xuất từ các tài nguyên trong nước và nhập khẩu, với công nghệ tiên tiến Việt Nam có khả năng sản xuất ra nhiều vật liệu công nghiệp quí hiếm, thông dụng khác mà cần được khuyến khích nghiên cứu, phát minh, sáng chế và sáng tạo...

Giải pháp phát triển sản xuất các ngành công nghiệp vật liệu

Hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát triển các ngành công nghiệp vật liệu: Ban hành chính sách ưu đãi đủ mạnh để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành công nghiệp vật liệu kết hợp với các hoạt động giới thiệu, khuyến khích đầu tư. Xây dựng và ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp các ngành công nghiệp vật liệu bao gồm xúc tiến thương mại, liên kết doanh nghiệp, xúc tiến đầu tư, đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực...

Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp vật liệu: thông qua các hiệp định thương mại đã ký, tranh thủ thế mạnh của từng đối tác, thông qua thương mại để thu hút đầu tư cho sản xuất trong nước, đưa vật liệu công nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị liên danh liên kết sản xuất và xuất khẩu; tăng cường đầu tư cho công tác nghiên cứu và phát triển tiềm lực khoa học công nghệ một số lĩnh vực khoa học và công nghệ vật liệu trọng điểm.

Thực hiện chính sách và biện pháp khuyến khích để huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức sản xuất, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách Nhà nước và từ các chương trình viện trợ quốc tế, đặc biệt là các chương trình viện trợ ODA cho công tác đào tạo, nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ vật liệu.

Nâng cao năng lực các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vật liệu: Bên cạnh các chính sách thu hút đầu tư, ưu đãi các doanh nghiệp các ngành công nghiệp vật liệu cần xây dựng chương trình phát triển số lượng doanh nghiệp các ngành công nghiệp vật liệu là chương trình khởi tạo doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp vật liệu nhằm gia tăng số lượng doanh nghiệp sản xuất. Nâng cao năng lực các doanh nghiệp các ngành công nghiệp vật liệu cần xây dựng chương trình nâng cao năng lực quản trị, chương trình nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, chương trình nâng cao năng lực tiếp thị, chương trình nâng cao năng lực liên kết doanh nghiệp,...

Xây dựng hệ thống hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp các ngành công nghiệp vật liệu như xây dựng cổng thông tin điện tử, cơ sở dữ liệu về các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu Việt Nam, cung cấp các thông tin chính sách, pháp luật, thị trường, công nghệ, giúp kết nối doanh nghiệp với thị trường.

Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và nâng cao trình độ công nghệ sản xuất vật liệu công nghiệp: đổi mới công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ, gắn nghiên cứu khoa học và công nghệ với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp các ngành công nghiệp vật liệu nói riêng. Cần nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài về hình thức tổ chức: đề tài nghiên cứu do các doanh nghiệp đặt hàng và chi trả kinh phí nghiên cứu thông qua doanh nghiệp trên cơ sở kết quả nghiên cứu được doanh nghiệp ứng dụng.

Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp vật liệu: đẩy mạnh đào tạo công nhân bậc cao, công nhân lành nghề cho các lĩnh vực các ngành công nghiệp vật liệu. Tổ chức các khoá đào tạo về quản lý, công nghệ, thương mại... cho các nhà quản lý doanh nghiệp các ngành công nghiệp vật liệu. Khuyến khích các doanh nghiệp và địa phương tổ chức đào tạo nhân lực tại chỗ, hỗ trợ các cơ sở đào tạo nghề tại địa phương đào tạo công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. 

Giải pháp liên kết các doanh nghiệp công nghiệp sản xuất vật liệu: Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển các ngành công nghiệp vật liệu thông qua ký kết các hiệp định, chương trình hợp tác song phương, đa phương về công nghiệp, các ngành công nghiệp vật liệu và các lĩnh vực liên quan. Kết nối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp nội địa thông qua các chương trình giới thiệu nhu cầu và năng lực cung ứng trong nước.

Tăng cường công tác thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm các ngành công nghiệp vật liệu làm cơ sở giới thiệu, phát triển liên kết doanh nghiệp. Củng cố và nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành nghề, các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ nhằm tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp các ngành công nghiệp vật liệu. 

Một số kiến nghị và đề xuất 

Từ những nội dung và yêu cầu của sự cần thiết; những nội dung định hướng nêu trên, xin kiến nghị và đề xuất như sau:

Đề nghị cấp có thẩm quyền của Trung ương cho chủ trương xây dựng Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp vật liệu trong nước phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập sâu kinh tế quốc tế. 

Yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp vật liệu phát huy khả năng sáng tạo, góp phần tạo nền tảng giúp cho các thị trường sản xuất trong nước phát triển, thúc đẩy phát triển các ngành nghề, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tạo động lực phát triển cho các ngành công nghiệp hỗ trợ như văn hoá, dịch vụ, du lịch, đô thị hỗ trợ cho các thị trường sản xuất công nghiệp trong nước nói chung và công nghiệp vật liệu trong nước phát triển bền vững.

Cơ quan Lập pháp, trong quá trình nghiên cứu xây dựng pháp luật, cần coi trọng thể chế hoá chủ trương phát triển các thị trường sản xuất, trong đó cần ưu tiên trước mắt cho thị trường công nghiệp vật liệu phục vụ công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế thành luật để thực hiện.

Cơ quan điều hành và quản lý nhà nước cân đối khi phát triển các ngành công nghiệp vật liệu sản xuất trong nước, điều chỉnh kế hoạch xuất, nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ nước ngoài tạo điều kiện cho các thị trường sản xuất phát triển theo qui định của pháp luật. Sau khi luật pháp đã được ban hành, theo đó các cơ quan chức năng sớm xây dựng các cơ chế, chính sách, ngành nghề, danh mục sản phẩm vật liệu, hàng hoá, để doanh nghiệp và các thành phần kinh tế thực hiện.

Rà soát điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch khai thác, sản xuất, chế biến, dự trữ, sử dụng có hiệu quả các loại tài nguyên của đất nước, phục vụ cho nền kinh tế và các thị trường sản xuất phát triển nhanh và bền vững.

Tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền phổ biến các thị trường sản xuất, thị trường công nghệ, khoa học kỹ thuật hỗ trợ cho các thị trường sản xuất phát triển bền vững để hoàn thành mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập thành công, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Theo TS. Phạm Xuân Đương - Uỷ viên Trung ương Đảng, - Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương